Search our site
Search our site

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ THÀNH CÔNG CỦA MÔ HÌNH ĐỐI TÁC CÔNG TƯ PPP TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ (16-05-2017)

GVC.TS Nguyễn Văn Bảo & ThS. Nguyễn Quốc Toản

Khoa Kinh tế và Quản lý xây dựng, Trường Đại học Xây dựng

KS. Sử Văn Hoài

Học viên cao học lớp DAHT1405, Trường Đại học Xây dựng

 

Abstract:

          Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là xu hướng được các nước đang phát triển rất quan tâm, nhất là trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT) giao thông đường bộ (GTĐB). Bài báo tổng hợp những nhân tố tác động đến sự thành công của dự án PPP, trong đó phân tích nhân tố có ý nghĩa quyết định là vai trò của Nhà nước, để thúc đẩy đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), đặc biệt đối với các dự án phát triển CSHT GTĐB.  

 1. Đặt vấn đề

Các hình thức PPP gần đây đã trở thành một trong những phương thức hiệu quả của sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân. Ngày càng có nhiều nước bắt đầu sử dụng các mô hình PPP như một cách để cung cấp các dịch vụ công cộng và để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng cao. Với nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ hạn chế như hiện nay trong khi khả năng nguồn lực tài chính của Nhà nước không thể đáp ứng được thì việc khuyến khích đầu tư PPP là mô hình hợp tác tối ưu hoá hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao.     

Bằng chứng từ nghiên cứu của ngân hàng JBIC, WB, ADB thực hiện cho thấy rằng trong một môi trường được khuyến khích thoả đáng (có cơ chế pháp luật tốt, các chính sách ưu đãi phù hợp), các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân làm tốt hơn các nhà cung cấp dịch vụ thuộc khu vực công cộng và theo kinh nghiệm thực tiễn cho thấy có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hình PPP có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án không thể hoặc khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa và các dự án mà Nhà nước không thể tham gia trực tiếp, đặc biệt là các dự án về đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng và các dịch vụ công cộng.

2. Nhân tố tác động đến sự thành công của dự án PPP

Hiệu quả đầu tư theo mô hình PPP đem lại là:

- Thứ nhất, giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo ra được một môi trường cạnh tranh cao. Điều này không phải do bản chất sở hữu tư nhân, mà do những nhà cung cấp thuộc khu vực tư nhân nhanh nhạy hơn với sự cạnh tranh và các hình thức khuyến khích. Hơn nữa, nguồn tài chính bổ sung cho các dự án hạ tầng từ các nguồn vốn tư nhân có thể giúp làm giảm nhu cầu về vốn của các dự án cơ sở hạ tầng (CSHT) trọng điểm.

- Thứ hai, khu vực tư nhân giúp tiếp cận được với nguồn tài chính, công nghệ tiên tiến, quản lý hiệu quả, hoàn thành công trình đúng thời hạn và khai thác công trình có hiệu quả nhất.

- Thứ ba, các nhà đầu tư tư nhân sẽ góp phần dịch chuyển gánh nặng thanh toán từ người chịu thuế sang người tiêu dùng bởi vì mục đích của họ là doanh thu và bù đắp chi phí.

- Thứ tư, việc tư nhân tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng sẽ góp phần vào việc chống tham nhũng lãng phí, bởi nguồn vốn của tư nhân luôn được quản lý chặt chẽ nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.

Ở các nước phát triển và đang phát triển, mô hình hợp tác công tư PPP ngày càng được áp dụng phổ biến trong đầu tư phát triển các CSHT và cung cấp dịch vụ công cộng. Để phát huy được những tính năng vượt trội của nó, việc nghiên cứu các yếu tố thành công của PPP luôn được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Qua nghiên cứu những bài viết của các nhà nghiên cứu trên thế giới và các nghiên cứu ở Việt Nam [1], các tác giả đã xác định 4 nhân tố chính tác động đến sự thành công của PPP:

-         Nhân tố thứ nhất: Vai trò của Nhà nước

Theo nghiên cứu, Nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển và quản lý các dự án PPP. Việc xây dựng cơ chế áp dụng không phù hợp bắt nguồn từ sự yếu kém về năng lực của Nhà nước, dẫn đến thất bại của PPP. Do đó,  nhiệm vụ của Nhà nước là phải tạo lập những điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư tham gia vào PPP [9, 10], cụ thể:

+ Môi trường đầu tư hấp dẫn: một môi trường đầu tư hấp dẫn sẽ thu hút được khu vực tư nhân tham gia đầu tư. Do đó, sự thành công của bất kỳ dự án nào đều phụ thuộc rất lớn vào môi trường dự án được triển khai. Nhà nước cần tạo lập một môi trường đầu tư thuận lợi với điều kiện xã hội, pháp luật, kinh tế và tài chính ổn định. Ngoài ra, để tăng sức hấp dẫn cho các dự án PPP, Nhà nước cần có những ưu tiên, những chính sách hỗ trợ cho khu vực tư nhân khi tham gia vào các dự án PPP.

+ Thiết lập khung pháp lý đầy đủ: một khung pháp lý đầy đủ và minh bạch là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của PPP. Căn cứ vào khung pháp lý đó, Nhà nước giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện dự án PPP, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên, qua đó gia tăng niềm tin của nhà đầu tư tư nhân, đảm bảo dự án hiệu quả, phân chia rủi ro phù hợp và tránh những rủi ro tiềm tàng.

+ Thành lập cơ quan giám sát và hợp tác: Nhà nước cần thiết thành lập một cơ quan trung tâm hòa giải các xung đột, làm cầu nối giữa các nhà đầu tư nước ngoài với chính quyền.

+ Tích cực tham gia trong suốt vòng đời dự án: trong các dự án PPP, mặc dù khu vực tư nhân tham gia và chịu trách nhiệm là chủ yếu, tuy nhiên Nhà nước vẫn cần tham gia suốt vòng đời dự án với vai trò giám sát, quản lý nhà nước để đảm bảo dự án đáp ứng các mục tiêu.

Hình 1: Các nhân tố tác động đến sự thành công của mô hình PPP

trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ [1]

-  Nhân tố thứ hai: Lựa chọn đối tác tư nhân

Sự thành công của dự án PPP cũng phụ thuộc nhiều vào sự lựa chọn đối tác tư nhân [4]. Khi tham gia dự án PPP, khu vực tư nhân có trách nhiệm tài trợ vốn, thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo dưỡng và cung cấp dịch vụ cho đến khi kết thúc thời gian thực hiện dự án PPP. Bởi vậy, Nhà nước cần phải đảm bảo lựa chọn được nhà đầu tư có đủ năng lực và kinh nghiệm chuyên môn. Việc lựa chọn nhà đầu tư thông qua quy trình đấu thầu minh bạch và cạnh tranh. Do vậy, Nhà nước cần sử dụng những phương pháp đánh giá khoa học và xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá phù hợp với mục tiêu của Nhà nước.

-  Nhân tố thứ ba: Phân bổ các rủi ro của dự án

Phân bổ rủi ro là sự phân chia các công việc giữa các đối tác trong cùng một dự án, mỗi đối tác có trách nhiệm tài trợ, xây dựng, kinh doanh và gánh chịu các rủi ro phát sinh từ công việc được giao [5]. Cả Nhà nước và các nhà đầu tư khi tham gia PPP cần phải xác định và hiểu rõ tất cả các rủi ro tiềm tàng khi thực hiện các dự án PPP. Rủi ro sẽ được phân chia một cách hợp lý cho bên có khả năng tài chính và kỹ thuật tốt nhất để xử lý chúng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới có các cách phân lại rủi ro của dự án PPP khác nhau:

+ Theo tính hệ thống có thể chia rủi ro thành hai nhóm chính [5]:

Rủi ro hệ thống là những rủi ro ngoài khả năng kiểm soát của những người tham gia dự án, bao gồm rủi ro chính trị, pháp lý, kinh tế và môi trường.

Rủi ro phi hệ thống liên quan đến bản thân dự án, như rủi ro xây dựng, thiết kế, vận hành, tài chính và doanh thu.

+ Rủi ro có thể phân chia theo hai khía cạnh: rủi ro hiện hữu và rủi ro tiềm tàng phát sinh trong quá trình thiết kế, xây dựng và phát triển, chi phí hoạt động, sự đa dạng của nguồn thu và các loại rủi ro khác [7].

+ Một cách phân loại khác cũng được sử dụng phổ biến như phân loại theo lĩnh vực có liên quan như rủi ro doanh thu, rủi ro phân bổ đất, rủi ro nhu cầu, rủi ro kinh tế, rủi ro thiếu cạnh tranh, rủi ro về chi phí hoạt động, rủi ro nợ vay, và rủi ro chính trị [11, 12].

- Nhân tố thứ tư: Cấu trúc tài chính của dự án PPP đường bộ

Các dự án giao thông đường bộ (GTĐB) thường đòi hỏi một nguồn lực tài chính rất lớn, vì vậy còn gây tâm lý e ngại đối với các nhà đầu tư. Do đó, Chính phủ cần mở rộng biên độ hỗ trợ nhằm tăng tính khả thi về tài chính của dự án. Việc xây dựng một cấu trúc tài trợ tiêu chuẩn là cần thiết bao gồm: vốn mồi (seed funding), vốn chủ sở hữu và nợ; cấu trúc này đặc biệt phù hợp với các nước đang phát triển.

3. Vai trò của Nhà nước đối với phát triển hình thức PPP trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

Nhà nước đóng vai trò quan trọng để có thể triển khai được mô hình PPP đặc biệt trong áp dụng mô hình PPP vào xây dựng CSHT GTĐB, Nhà nước cần thể hiện ở 4 vai trò sau: Khởi xướng hợp tác công tư; Đối tác trong hợp đồng PPP;  Hỗ trợ các nhà đầu tư tư nhân; Quản lý sự phát triển của PPP [1].

- Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp lý về PPP

Sự minh bạch và bình đẳng giữa các bên tham gia đóng vai trò hết sức quan trọng trong thu hút vốn đầu tư PPP. Do đó, khung pháp lý phải được xây dựng một cách hoàn thiện để giúp nhà đầu tư tư nhân tránh các rủi ro như: rủi ro đấu thầu, rủi ro đàm phán, rủi ro xây dựng, rủi ro đầu tư, rủi ro môi trường, rủi ro ngoại tệ, v.v...

Trước đây, một trong những hình thức đầu tư theo PPP được quy định tại Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, hợp đồng xây dựng - chuyển giao; Nghị định số 24/2011/NĐ-CP ngày 05/4/2011 của Chính phủ, sửa đổi một số điều của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009, về đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, hợp đồng xây dựng - chuyển giao; Thuật ngữ “PPP” chỉ được đề cập chính thức tại Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

Hiện nay, trong khung pháp luật điều chỉnh PPP tại Việt Nam, có bốn văn bản có tính pháp lý cao nhất là Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2014; Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 và có hiệu lực từ 01/7/2015; Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 và Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật đấu thầu quy định quản lý nhà nước về đấu thầu; trách nhiệm của các bên có liên quan và các hoạt động đấu thầu, trong đó có quy định về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), dự án đầu tư có sử dụng đất. Luật đấu thầu được cụ thể hoá việc lựa chọn nhà đầu tư theo Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/3/2015 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư (có hiệu lực từ ngày 05/5/2015). Luật đầu tư quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài, trong đó có quy định về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (gọi là hợp đồng PPP). Luật đầu tư công quy định việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; quản lý nhà nước về đầu tư công; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công. Luật đầu tư công có quy định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (có hiệu lực từ ngày 10/4/2015). Đây là văn bản pháp lý quan trọng về đầu tư PPP. Các hoạt động PPP còn liên quan với Luật ngân sách nhà nước (mới nhất là Luật ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13, có hiệu lực từ 01/01/2017) và Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015). Vướng mắc hiện nay là hầu như chưa có thông tư hướng dẫn nào cho các luật và nghị định đã nêu trên.

- Khởi xướng hình thức đối tác công tư

Với vai trò khởi xướng hình thức đối tác công tư, Nhà nước xác định danh mục các dự án giao thông đường bộ khả thi để có thể được triển khai dưới hình thức PPP.

Cơ sở để Nhà nước xác định danh mục các dự án theo hình thức PPP dựa vào các yếu tố chính bao gồm:

+ Rủi ro được chuyển cho bên nào có thể quản lý tốt nhất.

+ Khu vực tư nhân sẽ đóng góp không chỉ có vốn mà cả công nghệ và năng lực quản lý vào việc xây dựng, vận hành và duy trì các công trình giao thông đường bộ.

+ Khu vực tư nhân đầu tư vào dự án sẽ đem lại lợi ích lớn hơn khu vực nhà nước tự đầu tư.

Như vậy việc lựa chọn các dự án theo hình thức PPP phải đảm bảo mục tiêu thu hút vốn từ khu vực tư nhân, sử dụng hiệu quả năng lực chuyên môn và chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân trong quá trình thực hiện dự án.

Hình 2: Rủi ro khi triển khai mô hình PPP

(Nguồn: Tác giả)

Vai trò khởi xướng của Nhà nước trong mỗi dự án PPP thể hiện ở việc Nhà nước xác định loại hình đối tác đối với dự án; nghiên cứu khả thi dự án; xác định các yếu tố về chính sách, quy định điều tiết dự án; các yêu cầu kỹ thuật; các yêu cầu về kinh tế, tài chính; xây dựng kế hoạch đấu thầu dự án.

- Đối tác trong hợp đồng PPP

Trong các định nghĩa về PPP từ những nguồn nghiên cứu khác nhau đều chỉ ra rằng Nhà nước và tư nhân là hai đối tác làm việc cùng nhau thực hiện dự án, cung cấp các dịch vụ phục vụ người dân. Vai trò đối tác của Nhà nước thể hiện ở hai nội dung:

+ Nhà nước với tư cách là một chủ thể ký kết hợp đồng với tư nhân

Cơ quan nhà nước không chỉ có trách nhiệm chuẩn bị dự án, tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà thầu mà còn có trách nhiệm đàm phán với nhà đầu tư tư nhân về các công việc để thực hiện dự án được quy định trong nội dung hơp đồng giữa hai bên như: thời gian dự án (số năm xây dựng, số năm thu phí), mức thu phí dự án, cơ chế thay đổi phí, các yêu cầu kỹ thuật, công nghệ của dự án, tài chính dự án, phần đóng góp của tư nhân, phần đóng góp của Nhà nước, chia sẻ rủi ro và bảo lãnh của Chính phủ và các nội dung khác thể hiện trong hợp đồng PPP. Khi dự án đi vào hoạt động, Nhà nước cũng cần kiểm soát để đảm bảo các điều khoản trong hợp đồng được tuân thủ. Vai trò này của Nhà nước được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc Bộ Giao thông vận tải hoặc chính quyền địa phương theo phân cấp quản lý.

+ Nhà nước là một chủ thể tham gia dự án

Với vai trò này, Nhà nước cũng là một nhà đầu tư và thực hiện dự án, Nhà nước và tư nhân lúc này sẽ là hai (khối) nhà đầu tư, cùng thực hiện dự án để đưa sản phẩm, dịch vụ tới người dân. Trên thực tế, khối tư nhân có thể không đảm nhận hết các phần việc trong dự án do hạn chế về vốn, nguồn lực hoặc khả năng chấp nhận rủi ro, do vậy, Nhà nước sẽ là một chủ thể thực hiện các hoạt động mà khối tư nhân không đảm nhận, dựa trên nguyên lý Nhà nước sẽ chỉ là nhà đầu tư thiểu số (minority equity co-investor) [13].

Mặc dù chỉ là nhà đầu tư thiểu số, việc tham gia của Nhà nước với tư cách là nhà đầu tư sẽ tạo ra các ưu điểm:

Ø  Các mục tiêu dự án sẽ rõ ràng hơn, giúp cải thiện kết quả dự án và đạt mục tiêu quản lý rủi ro.

Ø  Tạo ra một môi trường hợp tác, minh bạch, làm nền tảng cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa khối nhà nước và khối tư nhân.

Ø  Độ minh bạch của dự án được cải thiện, các thông tin về kết quả tài chính của dự án, các tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án được rõ ràng, minh bạch và Nhà nước có thể có được các thông tin này một cách dễ dàng và chính xác bởi lúc này Nhà nước cũng là một nhà đầu tư của dự án.

Ø  Hiệu quả dự án sẽ được cải thiện vì Nhà nước và tư nhân cùng chia sẻ rủi ro và các công việc trong dự án dựa trên việc phân tích rõ bên nào đảm nhận phần việc nào hiệu quả hơn, từ đó tổng chi phí của dự án sẽ giảm xuống.

So với hình thức đầu tư truyền thống, cách tiếp cận Nhà nước với tư cách là một nhà đầu tư và thực hiện dự án trong các dự án PPP là một cách tiếp cận mới. Cách tiếp cận này đòi hỏi Nhà nước phải giải quyết hài hòa các xung đột về lợi ích giữa Nhà nước và tư nhân vừa với tư cách là nhà đầu tư vừa với tư cách là đơn vị quản lý nhà nước.

-  Hỗ trợ các nhà đầu tư tư nhân

Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, mức độ khả thi về tài chính của dự án phụ thuộc chủ yếu vào: nhu cầu thị trường, cơ cấu thuế, thời gian thực hiện dự án, tính hấp dẫn của dự án và các rủi ro bất khả kháng [17].

Các hỗ trợ của Chính phủ là cần thiết đặc biệt đối với các nước đang phát triển để đảm bảo có thể thu hút được tư nhân tham gia và nhu cầu của người dân được thỏa mãn [3, 16].

Hỗ trợ của Chính phủ có thể được sử dụng để đem lại khả năng duy trì thương mại cho một dự án dưới góc độ xem xét của nhà điều hành tư nhân thậm chí ngay cả khi sự kết hợp được kỳ vọng giữa dịch vụ cung cấp và biểu phí không giúp thu hồi được đầy đủ chi phí. Điều này chỉ có ý nghĩa nếu tổng chi phí của Chính phủ dưới hình thức mối quan hệ đối tác Nhà nước - tư nhân (trong đó có trợ cấp) thấp hơn chi phí của Chính phủ trong trường hợp việc vận hành dịch vụ hoàn toàn thuộc trách nhiệm của khu vực nhà nước hoặc thấp hơn chi phí không cung cấp dịch vụ ở mức độ yêu cầu. Mức hỗ trợ của Chính phủ phù hợp sẽ cải thiện điều kiện tài chính và tăng tính hấp dẫn của dự án PPP. Nếu mức hỗ trợ quá nhiều sẽ gia tăng mối quan ngại rằng khu vực tư nhân thu được nhiều lợi nhuận từ khu vực công [14]..

-  Quản lý sự phát triển của PPP

Giai đoạn ban đầu của sự phát triển PPP tại mỗi quốc gia là giai đoạn khó khăn và phức tạp nhất. Khó khăn của Nhà nước là việc lựa chọn các dự án phù hợp để tiến hành theo hình thức PPP, xây dựng cơ chế phối hợp và thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân nhưng vẫn phải đảm bảo giá trị đồng tiền cho Nhà nước, xác định, chịu trách nhiệm và bảo lãnh những rủi ro ở mức độ hợp lý. Khó khăn của khu vực  tư nhân là thực hiện phối hợp với Nhà nước để thực hiện các hợp đồng, việc thay đổi nhu cầu của thị trường, thay đổi trong chính sách của Nhà nước khiến hiệu quả đầu tư không đạt được. Nếu Nhà nước không có một lộ trình cho sự phát triển PPP, khu vực  tư nhân sẽ không thể tham gia vào các dự án, mô hình PPP sẽ thất bại [15].

Chính vì vậy, quy trình quản lý sự phát triển của PPP là rất quan trọng và Nhà nước cần chia quy trinh đó làm hai giai đoạn: Giai đoạn thử nghiệm mô hình PPP và Giai đoạn phát triển PPP.

Trong mỗi giai đoạn nói trên, Nhà nước cần thể hiện vai trò của mình trong việc  xây dựng khung chính sách và pháp luật cho PPP một cách đầy đủ, kịp thời và minh bạch qua đó gia tăng niềm tin của nhà đầu tư tư nhân, đảm bảo dự án hiệu quả, phân chia rủi ro phù hợp và tránh những rủi ro tiềm tàng.

Kết luận

Có nhiều nhân tố tác động đến sự thành công của một dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP). Trong các nhân tố đó, vai trò của Nhà nước đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định, nhất là đối với các dự án PPP trong phát triển CSHT GTĐB. Vai trò của Nhà nước càng cụ thể, rõ ràng, minh bạch và có trách nhiệm bao nhiêu thì niềm tin của các nhà đầu tư tư nhân càng tăng lên bấy nhiêu. Điều đó làm cho các dự án PPP có tính hiện thực và khả thi. 

(Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế Xây dựng, số 01/2016)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.   Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), Hình thức hợp tác công tư (Public private partnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh.

2.   Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội (2014), Phương thức đối tác công tư (PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam, Nhà xuất bản Tri thức.

3.   ADB (2008), “Public - private partnership (PPP) handbook”.

4.   Marcus Ahadzi and Graeme Bowles (2004), Public - private partnerships and contract negotiations: an empirical study Marcus, Construction Management and Economics, November 2004, pp 967-978.

5.   Merna và Smith (1996), Guide to the Preparation and Evaluation of Build - Own - Operate - Transfer Project Tenders, HongKong: Asia Law&Practice.

6.   Hardcastle (2005), Critical Success Factors for PPP/PFI Projects in the UK Construction Industry: a factor analysisapproach, Taylor&Francis, Construction Management and Economics, Volume 23Issue 5.

7.   Nisar (2007), Risk Management in Public - Private Partnership Contracts, Springer Science, Public Organization Review, Volume 7, Issue 1, pp 1-19.

8.     KPMG Global Infrastructure and Projects Group (2011), PPP Vietnam Workshop.

9.     Khulumane John Maluleka (2008), Transport economic regulatory intervention in the transport infrastructure: a publicprivate partnership exploratory study, Doctor thesis, University of South Affica.

10. E.R Yescombe (2007), Public - Private Partnerships, Principles of Policy and Finance, Published by Elsevier Ltd.

11.  Wang, S.Q., Tiong, R.L.K, Ting, S.K and Ashley, D. (2000), Evaluation and Management of Political Risks in China’s BOT Projects, Journal of Construction Engineering and Management, 126/3: 242-250;

12.  Thomas, A.V., Kalidindi, S. N. and Ananthanarayanan, K. (2003), Risk Perception Analysis of BOT Road Project Participants in India, Construction Management and Economics, June 2003, 21/4: 393-407.

13.  HM Treasury (1998), Partnerships for Prosperity: the Private Finance Initiative, London

14. Zhang, X.Q. (2005), Critical Success Factors for Public-Private Partnerships in Infrastructure Development, Journal of Construction Engineering and Management, 131/1: 3-14.

15. Qiao, L., Wang, S.Q., Tiong, and Chan (2001), Framework for Critical Success Factors of BOT Projects in China, Journal of Project Finance, 7/1: 53-61.

16.  Esther Malini (2007), Hình thức BOT trong xây dựng cầu đô thị của Ấn Độ, Tạp chí Cầu đường Việt Nam, số 3/2007

17.  World Bank (1997), Infrastructure Strategies in East Asia: The Untold Story

Trở lại

Ý kiến bạn đọc (0)

 

Ý kiến của bạn  (Trường có dấu * bắt buộc phải nhập)

Tên của bạn*:
Số điện thoại:
Địa chỉ:
Email:
Nội dung:
Mã bảo mật
Nhập lại mã*:

KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
Địa chỉ: Phòng 319 Nhà A1 Trường Đại học Xây dựng - Số 55 Đường Giải Phóng - Hà Nội.
Điện thoại: (04).3869.1829 - Fax: (04).3869.7050
Email: contact@kinhtexaydung.edu.vn - Website: www.kinhtexaydung.edu.vn